Trường dữ liệu là gì ? các mô hình cơ sở dữ liệu thông dụng trường (khoa học máy tính)

-

Cơ sở dữ liệu là phần cốt lõi của nhiều ứng dụng phần mềm kinh doanh. Cơ sở dữ liệu rất phổ biến trong thế giới kinh doanh vì chúng cho phép truy cập tập trung đến các thông tin theo một các nhất quán, hiệu quả và tương đối dễ dàng cho việc phát triển và bảo trì. Chương này tìm hiểu về các khái niệm cơ bản để thiết lập và bảo trì một cơ sở dữ liệu cho một doanh nghiệp, bao gồm cơ sở dữ liệu là gì, tại sao cơ sở dữ liệu hữu dụng và dùng cơ sở dữ liệu như thế nào để tạo ra các giải pháp cho doanh nghiệp.Bạn đang xem: Trường dữ liệu là gì

Nếu bạn đã từng dùng Visual Basic và từng lập trình với cơ sở dữ liệu. Bạn sẽ thấy chương trình này khá cơ bản, tuy nhiên nó sẽ giúp bạn có được một nền tảng tổt của một hệ quản trị cơ sở dữ liệu nói chung.

Bạn đang xem: Trường dữ liệu là gì

Mặc dù các khái niệm cơ sở dữ liệu gần như tương tự giữa các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, các nhà cung cập các hệ quản trị cơ sở dữ liệu thường có các tên gọi khác nhau cho các sản phẩm riêng của họ. Ví; dụ, nhiều nhà lập trình Client / Server đề cập đến truy cấn chứa trong cơ sở dữ liệu như là View; trong khi các nhà lập trình Access và Visual Basic lại gọi truy vấn là Query
D
ef. Cả hai khái niệm này đều là như nhau.

Nếu bạn đã từng dùng phiên bản cũ của VB – nhất là Visual Basic 3, ta cần biết một vài điểm mới trong lập trình cơ sở dữ liệu. Visual Basic chứa phiên bản mới nhất của Bộ máy cơ sở dữ liệu Jet ( Visual Basic chia sẻ với Microsoft Access ). Phiên bản này của Jet đưa ra các bổ sung cho bộ máy cơ sở dữ liệu sẽ được trình bày trong chương này. Ngoài ra, việc bổ sung ADO(Đối tượng dữ liệu Active
X -Active
X Data Object ), cũng như các công cụ liên quan trong môi trường phát triền, thể hiện những thay đổi cho các nhà lập trình Visual Basic. Nếu đã quen với phát triển dữ liệu 32 bit trong Visual Basic, Bạn có thể nhảy thẳng đến chương “Đối tượng dữ liệu Active
X – ADO”.

Cơ sở dữ liệu là gì?

Cơ sở dữ liệu là một kho chứa thông tin. Có nhiều loại cơ sở dữ liệu, nhưng ta chỉ đề cập đến cơ sở dữ liệu quan hệ, là kiểu cơ sở dữ liệu phổ biến nhất hiện nay.

Một cơ sở dữ liệu quan hệ:

Chứa dữ liệu trong các bảng, được cấu tạo bởi các dòng còn gọi là các mẩu tin, và cột gọi là các trường.

Cho phép lấy về ( hay truy vấn ) các tập hợp dữ liệu con từ các bảng


Bộ máy (Engine) cơ sở dữ liệu là gì?

Chức năng cơ bản của một cơ sở dữ liệu được cung cấp bởi một bộ máy cơ sở dữ liệu, là hệ thống chương trình quản lý cách thức chứa và trả về dữ liệu.

Bộ máy cơ sở dữ liệu trình bày trong tài liệu này là Microsoft Jet, Jet không phải là một thương phẩm, thay vào đó, nó là một hệ thống con được nhiều ứng dụng của

Microsoft sử dụng. Microsoft lần đầu tiên đưa bộ máy này vào sử dụng với Visual Basic 3.0 và Access 1. Sau nhiều lần nâng cấp, phiên bản Jet dùng với quyển sách này là Jet 3.51, đi kèm với Visual Basic và Access.

Chú ý : Ngoài Jet, còn nhiều bộ máy cơ sở dữ liệu khác, như vì Visual Basic hỗ trợ Jet một các nội tại nên quyển sách này ưu tiên nói về Jet. Hơn nữa Jet còn hỗ trợ các bộ máy cơ sở dữ liệu khác. Trong chương “Làm quen với SQL Server “ giới thiệu một bộ máy hoàn toàn khác SQL Server 6.5

Bản và trường

Các cơ sở dữ liệu được cấu tạo từ các bảng dùng thể hiện các phân nhóm dữ liệu.

Ví; dụ, nếu ta tạo một cơ sở dữ liệu để quản lý tài khoản trong công việc kinh doanh ta phải tạo một bảng cho khách hàng, một bảng cho Hoá đơn và một bảng cho nhân viên. Bảng có cấu trúc định nghĩa sẵn và chứa dữ liệu phù hợp với cấu trúc này.

Bảng: Chứa các mẩu tin là các mẩu riêng rẽ bên trong phân nhóm dữ liệu.

Mẩu tin: Chứa các môi trường. Mỗi trưởng thể hiện một bộ phận dữ liệu trong một mẩu tin. Ví; dụ như mỗi mẩu tin thể hiện một mục trong danh bạ địa chỉ chứa trong trường Tên và họ, địa chỉ, thành phố, tiểu bang, mã ZIP và số điện thoại.

Ta có thể dùng chương trình Visual Basic để tham chiếu và thao tác với cơ sở dữ liệu, bảng, mẩu tin và trường.

Thiết kế cơ sở dữ liệu

Để tạo một cơ sở dữ liệu, trước hết ta phải xác định thông tin gì cần theo dõi. Sau đó, ta thiết kế cơ sở dữ liệu, tạo bảng chứa các trường định nghĩa kiểu dữ liệu sẽ có. Sau khi tạo ra cấu trúc cơ sở dữ liệu, tạo bảng chứa các trường định nghĩa kiểu dữ liệu sẽ có. Sau khi tạo ra cấu trúc cơ sở dữ liệu, cơ sở dữ liệu có thể chứa dữ liệu dưới dạng mẩu tin. Ta không thể đưa dữ liệu vào mà không có bảng hay định nghĩa trường vì dữ liệu sẽ không có chỗ để chứa.Do đó, thiết kế cơ sở dữ liệu cực kỳ quan trọng, nhất là rất khó thay đổi thiết kế một khi ta đã tạo xong nó.

Ví; dụ ta tạo một bảng sau :

Bảng khách hàng Bảng tbl
Region tbl
Customer Tbl
Region ID State First
Name Region
Name Last
Name Company Address City State Zip Phone Fax Email

Có quan hệ giữa 2 bảng thông qua trường State (Trạng thái ). Đây là mối quan hệ một – nhiều, đối với một mẩu tin trong tbl
Region, có thể không có, hoặc có nhiều mẩu tin tương ứng trong bảng tbl
Customer.

Cụm từ “tbl” thể hiện tên bảng, tên trường hiển thị đầy đủ, không chứa khoảng trắng hay những ký tự đặc biệt khác như dấu gạch dưới.

Bảng hoá đơn :

Tbl
Order ID Customer
ID Order
Date Item
ID Amount

Recordset là gì ?

Một khi ta có khả năng tạo bảng, ta cần phải biết cách thao tác chúng.

Thao tác trên các bảng liên quan đến việc nhập và lấy về dữ liệu từ các bảng khác cũng như việc kiểm tra và sửa đổi cấu trúc bảng. Để thao tác với cấu trúc bảng, ta dùng các câu lệnh đinh nghĩa dữ liệu hoặc một đối tượng Table
Def
(được giới thiệu trong chương “ Các đối tượng truy cập dữ liệu” ). Để thao tác dữ liệu, trong một bảng, ta dùng Recordset.

Một Recordset là một cấu trúc dữ liệu thể hiện một tập hợp con các mẩu tin lấy về từ cơ sở dữ liệu. Về khái niệm, nó tương tự một bảng, nhưng có thêm một vài thuộc tí;nh riêng biệt quan trọng. Các Record
Set được thể hiện như là các đối tượng, về khái niệm tương tự như là các đối tượng giao diện người sử dụng ( như là các nút lệnh và hộp văn bản ) mà ta đã làm quen với Visual Basic trong các chương trước. Cũng như các kiểu đối tượng khác trong Visual Basic, các đối tượng Recordset có các thuộc tí;nh và phương thức riêng. Lưu ý : Ta có thể lập trình để tạo và sử dụng các recordset theo một trong ba thư viện truy cập dữ liệu – Các đối tượng truy cập dữliệu ( DAO ), các đối tượng truy cập dữ liệu từ xa ( RDO ) và các đối tượng dữ liệu Active
X ( ADO ).

Các kiểu cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu nội tại của Visual Basic, Jet, cung cấp 21 kiểu dữ liệu khác nhau.

Không có sự tương đương một-một giữa kiểu dữ liệu Visual Basic và kiểu dữ liệu trường cơ sở dữ liệu. Ví; dụ, ta không thể quy định một trường cơ sở dữ liệu là kiểu định nghĩa bởi người dùng hay biến Object của Visual Basic. Hơn nữa nếu ta dùng Microsoft Access để tạo cơ sở dữ liệu sử dụng trong các ứng dụng Visual Basic, lưu ý rằng một số kiểu dữ liệu hữu dụng trong ứng dụng Visual Basic không xuất hiện trong thiết kê bảng của Microsoft Access. Bởi vì Visual Basic hỗ trợ lập trình cơ sở dữ liệu khác với những gì tạo bằng Microsoft Access.

Tạo lược đồ cơ sở dữ liệu

Mặc dù việc tạo danh sách các bảng và trương là cách tốt nhất để xác định cấu trúc cơ sở dữ liệu, ta còn có một cách để xem các bảng và tường dưới dạng đồ hoạ.

Sau đó, không chỉ xem được các bảng và trường hiện có mà còn thấy được mối quan hệ giữa chúng. Để làm được điều này, ta tạo lược đồ.

Lược đồ là sơ đồ các con đường trong cơ sở dữ liệu. Lược đồ thể hiện các bảng, trường và mối quan hệ trong cơ sở dữ liệu. Có lược đồ cơ sở dữ liệu là phần quan trọng trong thết kế phần mềm bởi vì nó cho ta một cách nhìn nhanh về những gì trong cơ sở dữ liệu.

Các lược đồ vẫn có vị trí; quan trọng lâu dài sau khi quá trình thiết kế cơ sở dữ liệu hoàn tất. Ta sẽ cần đến lược đồ để thi hành các câu truy vấn trên nhiều bảng. Một lược đồ tốt sẽ trả lời được các câu hỏi như là, “ Những bảng nào cần nối với nhau để đưa ra danh sách các hoá đơn trên $50.00 từ các khách hàng ở Minnesota trong 24 giờ qua ?” Không có phương pháp chí;nh thức để tạo lược đồ, mặc dù cũng có nhiều công cụ để thực hiện. Công cụ vẽ Visio rất uyển chuyển, nhanh và dễ dùng. Hơn nữa nó tí;ch hợp với các ứng dụng Windows khác, nhất là Microsoft Office.

Phần này xem visio như một công cụ vẽ để ghi chếp về cơ sở dữ liệu. Nhung ta còn có thể dùng Visio như một công cụ phát triển. Với Visio Professional, ta có thể thiết kế cơ sở dữ liệu bằng đồ hoạ. Sản phẩm có khả năng lấy thiết kế đồ hoạ và tạo ra cơ sở dữ liệu thực sự. Tham khảo thông tin về Visio tại địa chỉ sentayho.com.vn

Dùng Visual Basic để tạo một cơ sở dữ liệu

Sau khi tạo xong lược đồ và chỉnh sửa thiết kế, đã đến lúc ta phải tạo cơ sở dữ liệu thực sự. Đạo cơ Basic, ta có thể dùng tiện í;ch gọi là Visual Data Manager. Tiện í;ch này trong ấn sở dữ liệu Jet dùng Visual bản Visual Basic Professional và Enterprise cho phép ta tạo các cơ sở dữ liệu tương thí;ch với Microsoft
Access.

Để chạy Visual Data Manager, ta theo các bước sau :

Từ menu của Visual Basic chọn mục Add-ins, VisualDataManager, cửa sổ VisualData Managersẽ xuất hiện. Từ menu của Visual Data Manager, chọn File, New. Từ menu con, chọn Microsoft Access, Version 7.0 MDB. Một hộp thoại tập tin xuất hiện : “ Version 2.0 MDB “ là phiên bản của Jet tương thí;ch với phiên bản 16 -bit của Access và Visual Basic Chọn thư mục ta muốn lưu cơ sở dữ liệu cơ sở dữ liệu mới rồi gõ tên. ( Vì mục đí;ch minh hoạ cho cuốn sách này, bạn có thể chọn tên cơ sở dữ liệu là novelty.mdb) Nhấn chuột vào nút Save. Cơ sở dữ liệu mới được tạo và Visual Data Manager sẽ hiển thị một vài cửa sổ cho phép ta làm việc với cơ sở dữ liệu được hiển thị như hình dưới đây.

Cửa sổ Visual Data Manager

Sử dụng cửa sổ cơ sở dữ liệu

Cửa sổ Data
Base của Visual Data Manager chứa tất cả các thành phần của cơ sở dữ liệu. Trong cửa sổ này ta có thể xem các thuộc tí;nh, kiểm tra các bảng và các phần tử khác và thêm các thành phần mới vào cơ sở dữ liệu.

Để xem các thuộc tí;nh ta vừa tạo, nhấn chuột vào dấu cộng ở bên trái của mục Properties. Mục này sẽ mở ra như hình dưới đây.

Xem các thuộc tí;nh của cơ sở dữ liệu mới.

Tạo bảng

Một đặc tí;nh của Visual Data Manager là nó không thể cho ta cách rõ ràng để tạo bảng mới trong cơ sở dữ liệu mà ta vừa tạo. Bởi vì các phần từ xuất hiện trong cửa sổ Database của Visual Data Manager rất nhạy với việc nhấn chuột phải. Nhưng một khi ta dùng nút chuột phải việc tạo một bảng mới thật là đơn giản. Ví; dụ : Để tạo một bảng mới ta theo các bước sau:

1. Trong cửa sổ Database của Visual Data Manager, nhấn chuột phải vào Properties. Menu ngữ cảnh của cửa sổ sẽ xuất hiện.

2. Chọn New Table. Hộp thoại Table Structure sẽ xuất hiện như hình dưới đây.

Hộp thoại Table Structure.

Trong hộp thoại Table Structure, ta có thể tạo cấu trúc bảng, chỉ định các trường, kiểu dữ liệu và chỉ mục. Ví; dụ, ta sẽ tạo cấu trúc bảng để chứa khách hàng.

Để làm được điều này, theo các bước sau:

1. Gõ tbl
Customer trong ô Table Name.

Xem thêm: Cách tải messenger phiên bản cũ dành cho android, messenger tải xuống phiên bản cũ apk

2. Nhấn chuột vào nút Add Field. Hộp thoại Add Field sẽ xuất hiện, được hiển thị như hình dưới đây.

Hộp thoại Add Field.

Hộp thoại Add field cho phép ta thêm một trường vào một bảng tạo bởi hộp thoại Table structure của Visual Data Manager.

3. Trong ô Name gõ First Name. Đây sẽ là tên của trường mà ta tạo trong bảng khách hàng.

4. Trong ô size gõ 25. Điều này chỉ ra rằng tên có thể lên đến 25 ký tự, nhưng không thể dài hơn. Điều này có nghĩa là cơ sở dữ liệu sẽ chứa các tên hiệu quả hơn.

5. Chọn Fixed Field để chỉ ra rằng đâu không phải là trường có chiều dài biến đổi, rổi nhấn nút OK. ( Lưu ý rằng rất khó sửa đổi một trường một khi ta đã tạo xong nó.Vì vậy, phải chắc chắn rằng mọi thứ ta quy định là chí;nh xác.) Trường được thêm vào cấu trúc cơ sở dữ liệu. Các hộp văn bản trong hộp thoại Add Field sẽ được xoá. Cho phép ta thêm vào một trường khác ngay lập tức.

6. Bây giờ ta có thể thêm các trường khác vào cấu trúc bảng. Sử dụng Add Field, thêm các trường vào tbl
Customer các trường sau đây :

Tên trường Kiểu dữ liệu Kí;ch cỡ dữ liệu Fixed First Name Text 25 Yes ID Long, Auto
Iner
Field=true N/A N/A Last
Name Text 45 Yes Company Text 100 Yes Address Text 100 Yes City Text 100 Yes State Text 2 Yes Zip Text 9 Yes Phone Text 25 Yes Fax Text 25 Yes Email Text 255 Yes

7. Cần kiểm tra hộp Auto
Iner
Field khi tạo trường ID để đảm bảo rằng mọi khách

hàng ta tạo đều có số hiệu duy nhất. Bởi vì bộ máy cơ sở dữ liệu tăng số trong trường một cách tự động, ứng dụng cơ sở dữ liệu sẽ không phải tự sinh ra số hiệu duy nhất.

8. Khi ta hoàn tất việc nhập trường, nhấn nút bấm Close.

Chỉ định chỉ mục và khoá chí;nh

Đến đây ta vừa tạo xong một bảng cơ bản, phần còn lại là ta cần chỉ ra các chỉ mục. Một chỉ mục là một thuộc tí;nh ta có thể gán cho một trường để tạo sự dễ dàng cho bộ máy cơ sở dữ liệu khi lấy về thông tin chứa trong trường đó. Ví; dụ, trong cơ sở dữ liệu theo dõi khách hàng, ứng dụng có thể tìm kiếm các khách hàng theo họ, mã Zip và các số hiệu ID cá nhân. Do đó, cần thiết phải tạo các chỉ mục trên những trường này để giúp cho quy trình lấy mẩu tin dựa trên các trường này nhanh hơn.

Một khi ta đã nhận ra lợi í;ch của các chỉ mục trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu, ta có thể tự đặt ra các câu hỏi như : Nếu các chỉ mục giúp việc tìm kiếm nhanh hơn, tại sao ta không đặt một chỉ mục trong tất cả các trường của mọi bảng ? Câu trả lời là các chỉ mục làm cho cơ sở dữ liệu của ta phình to hơn về mặt vật lý, vì vậy, nếu ta có quá nhiều chỉ mục, sẽ lãng phí; bộ nhớ và làm cho máy tí;nh của ta chạy chậm hơn. Điều này hiển nhiên làm mất đi các lợi thế ban đầu. Không có quy định về việc nên tạo bao nhiêu chỉ mục cho mỗi bảng, nhưng nói chung, ta nên tạo một chỉ mục dựa trên các trường mà ta nghĩ là dùng thường xuyên trong các câu truy vấn.

Mỗi bảng mà ta thiết kế phải có í;t nhất một khoá chí;nh, và nó phải được đánh số chỉ mục trên những trường mà ta mong đợi sẽ được truy vấn nhiều nhất. Trong trường hợp của bảng tbl
Customer, cũng như với nhiều bảng cơ sở dữ liệu, khoá chí;nh sẽ là trường ID. Các chỉ mục phụ là trường Last
Name và First
Name

Để tạo các chỉ mục và các khoá chí;nh, theo các bước sau :

1. Trong hộp thoại Table Structure, nhấn chuột vào nut Add Index. Hộp thoại

Add Index xuất hiện

Hộp thoại Add Index. Trước hết ta sẽ tạo khoá chí;nh cho bảng.

2. Gõ Primary Key trong hộp văn bản Name

3. Nhấn đúp chuột vào trường ID trong danh sách các trường có sẵn. ID được thêm vào danh sách các trường có chỉ mục. Hộp đánh dấu Primary và Unique phải được chọn theo mặc định.

4. Nhấn OK, Hộp văn bản bị xoá và khoá chí;nh được thêm vào thiết kế bảng.

Lưu ý rằng chỉ mục có tên như tên trường ( mặc dù đã quen với Microsoft Access m ta có thể không biết điều này, bởi vì Access che tên chỉ mục trên giao diện người sử dụng ). Truy cập đến tên của một trường chỉ mục thì thật thuận tiện cho một mục đí;nh nào đó.

Giờ đây ta có thể tạo thêm hai chỉ mục cho các trường First
Name và Last
Name. Để làm được điều này ta làm theo các bước sau :

1. Gõ tên chỉ mục First
Name
Index trong hộp văn bản Name

2. Nhấn đúp chuột trên trường First
Name trong danh sách các trường hiện có, First
Name được thêm vào trong danh sách các trường có chỉ mục.

3. Bỏ chọn các hộp đánh dấu Primary và Unique, sau đó nhấn nut OK.

Nếu ta để hộp đánh dấu Unique được chọn, ta sẽ không thể thêm hai người có cùng tên vào cơ sở dữ liệu.

4. Lặp lại quy trình này với truờng Last

Xin hãy xếp hạng
Chọn mức 1Chọn mức 2Chọn mức 3Chọn mức 4Chọn mức 5 

Thời đại 4.0, cơ sở dữ liệu là một khái niệm được sử dụng trong hầu hết các ngành nghề với vai trò vô cùng quan trọng. Vậy cơ sở dữ liệu hiểu chính xác là gì và phân loại, tác động, lợi ích sử dụng ra sao? kynanggame.edu.vn sẽ cùng các bạn tìm hiểu nhé!

*

Theo Wikipedia, Cơ sở dữ liệu(Database) là một tập hợp cácdữ liệucó tổ chức, thường được lưu trữ và truy cập điện tử từ hệ thống máy tính. Khi cơ sở dữ liệu phức tạp hơn, chúng thường được phát triển bằng cách sử dụng các kỹ thuật thiết kế và mô hình hóa chính thức.

Khi áp dụng hình thức lưu trữ này, nó sẽ giúp khắc phục được những điểm yếu của việc lưu file thông thường trên máy tính. Các thông tin lưu trữ sẽ đảm bảo được nhất quán, hạn chế tình trạng trùng lặp thông tin.

Phân loại

Trên thực tế có rất nhiều cách thức để phân loại cơ sở dữ liệu, kynanggame.edu.vn sẽ liệt kê một số cách phân loại hay gặp nhé

Phân loại theo loại dữ liệu:

-Cơ sở dữ liệu có cấu trúc (structured database): có nghĩa là cơ sở dữ liệu dữ liệu được định hình theo một cấu trúc xác định từ trước. Chúng ta có thể hình dung như một thư viện với các tủ hồ sơ được đánh nhãn, trong mỗi tủ được phân ngăn rõ ràng. Cơ sở dữ liệu có cấu trúc được xây dựng sẽ dễ dàng quản lý và truy cập thông tin.

-Cơ sở dữ liệu phi cấu trúc (unstructured database): là cơ sở dữ liệu không được xác định cấu trúc thông tin từ trước. Thường là tập hợp các dữ liệu thô, hỗn tạp và không đồng nhất. Các thành phần của cơ sở dữ liệu không có đặc điểm chung. Để quản lý, dữ liệu phi cấu trúc cần được chuyển đổi thành dữ liệu có cấu trúc qua quá trình chuẩn hóa.

-Cơ sở dữ liệu bán cấu trúc (semi-structured database): thường là dữ liệu có cấu trúc nhưng không đồng nhất. Cấu trúc của dữ liệu phụ thuộc vào chính nội dung của dữ liệu ấy. Đây là cơ sở dữ liệu có nhiều ưu điểm do lưu trữ được hầu hết các loại dữ liệu khác nhau nên cơ sở dữ liệu bán cấu trúc là hướng mới trong nghiên cứu và ứng dụng và được sử dụng thông dụng trên mạng Internet.

Phân loại theo hình thức lưu trữ, mô hình tổ chức

-Cơ sở dữ liệu dạng tệp (file database) dữ liệu được lưu trữ dưới dạng các file có thể là văn bản, ảnh, thông tin nhị phân, hoặc phát triển hơn là tệp cơ sở dữ liệu nhỏ gọn của các phần mềm quản lý dữ liệu.

-Cơ sở dữ liệu quan hệ (relational database): dữ liệu được lưu trữ trong các bảng dữ liệu gọi là các thực thể, giữa các thực thể này có mối liên hệ với nhau gọi là các quan hệ, mỗi quan hệ có các thuộc tính, trong đó có một thuộc tính là khóa chính. Các hệ quản trị hỗ trợ cơ sở dữ liệu quan hệ như: MS SQL server, Oracle, My
SQL… là đặc trưng thể hiện của các cơ sở dữ liệu này.

-Cơ sở dữ liệu phân cấp (herachical database): Một mô hình cơ sở dữ liệu phân cấp là một mô hình dữ liệu trong đó các dữ liệu được tổ chức thành một cây cấu trúc. Các dữ liệu được lưu trữ như các hồ sơ đó được kết nối với nhau thông qua các liên kết. Một thực thể là một tập hợp của các thực thể con, mỗi thực thể con cuối cùng (gọi là lá) chỉ chưa giá trị.

Phân loại theo đặc tính sử dụng

-Cơ sở dữ liệu hoạt động (operational databases): Trong hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị hay doanh nghiệp luôn sản sinh ra một lượng lớn thông tin. Các thông tin này lại là đầu vào cho quá trình thực hiện một nghiệp vụ khác. Các thông tin này được đưa vào các cơ sở dữ liệu để quản lý và truy xuất bởi các đối tượng khác nhau. Đây chính là hình thức của các cơ sở dữ liệu hoạt động.

-Cơ sở dữ liệu kho (data warehouse): Các tổ chức được yêu cầu phải giữ tất cả các dữ liệu có liên quan trong nhiều năm. Những thông tin này cũng là một nguồn quan trọng của thông tin để phân tích và so sánh các dữ liệu năm nay với các năm trước đó cũng làm cho nó dễ dàng hơn để xác định xu hướng chính phát triển của các tổ chức đang diễn ra. Tất cả các dữ liệu này từ năm trước đó được lưu trữ trong một kho dữ liệu. Kể từ khi dữ liệu được lưu trữ đã trải qua tất cả các loại sàng lọc, chỉnh sửa và tích hợp.

-Cơ sở dữ liệu ngữ nghĩa (semantic database): Đây là cơ sở dữ liệu mới thường được nhắc đến trong thời đại Internet. Là một cơ sở dữ liệu mềm dẻo và linh hoạt lưu trữ ngữ nghĩa của thông tin như như các sự kiện của các đối tượng. Cơ sở dữ liệu dữ liệu ngữ nghĩa được thiết kế để đại diện cho thế giới thực một cách chính xác nhất có thể trong tập hợp dữ liệu. Ký hiệu dữ liệu được tổ chức tuyến tính và phân cấp để cung cấp cho những ý nghĩa nhất định như một trong những mô tả ở trên. Bằng đại diện cho thế giới thực trong bộ dữ liệu, dữ liệu ngữ nghĩa cho phép các máy để tương tác với thông tin của thế gian mà không cần giải thích bởi con người.

Phân loại theo mô hình triển khai

-Cơ sở dữ liệu tập trung (centralized database): Một cơ sở dữ liệu tập trung là một cơ sở dữ liệu được đặt, lưu trữ, và duy trì trong một địa điểm duy nhất. Đây là vị trí thường xuyên nhất thiết đặt một hệ thống máy tính hoặc cơ sở dữ liệu hệ thống trung tâm, ví dụ một máy tính chủ, hoặc một hệ thống máy tính máy tính lớn (Wikipedia). Thông thường, một cơ sở dữ liệu tập trung sẽ được duy trì và quản lý bởi một đầu mối, một tổ chức hoặc một cơ quan. Người dùng truy cập vào một cơ sở dữ liệu tập trung thông qua hệ thống mạng nội bộ hoặc mạng diện rộng, internet để truy cập vào các cơ sở dữ liệu để cập nhật hoặc khai thác trung tâm CPU, do đó duy trì cơ sở dữ liệu riêng của mình

-Cơ sở dữ liệu phân tán (distributed database) là cơ sở dữ liệu không được lưu trữ và xử lý bởi nhiều máy tính, nhiều hệ thống thông tin và thường được đặt ở nhiều vị trí khác nhau. Các vị trí được kết nối với nhau bằng hệ thống mạng (có thể không thường xuyên trực tuyến). cơ sở dữ liệu phân tán có thể được quản lý bởi nhiều cơ quan, đơn vị và tổ chức khác nhau nhưng cần có một chính sách thống nhất để các cơ sở dữ liệu tương hợp và trao đổi thông tin với nhau.

-Cơ sở dữ liệu tập trung có bản sao: Các cơ sở dữ liệu tập trung và phân tán thường có những ưu điểm và nhược điểm của mình. Quyết định sử dụng loại nào còn phụ thuộc vào yếu tố quản lý và kỹ thuật như sự tham gia của các cơ quan, chính sách quản lý và khai thác dữ liệu, sự ổn định và tốc độ kết nối mạng, mức độ đáp ứng người sử dụng… cơ sở dữ liệu tập trung bản sao là cơ sở dữ liệu được lai giữa hai loại tập trung và phân tán trong đó một cơ sở dữ liệu tập trung lưu toàn bộ dữ liệu theo phạm vi quản lý, triển khai thêm các cơ sở dữ liệu thành phần bản sao theo từng phạm vi dữ liệu và kết nối đồng bộ đến cơ sở dữ liệu trung tâm.

Ưu điểm

Trước đây người ta chỉ quản lý dữ liệu bằng các file riêng biệt, cách làm này chỉ phù hợp trong điều kiện quản lý dữ liệu ở quy mô nhỏ, còn đối với những trường quản lý dữ liệu số lượng lớn thì đòi hỏi phải sử dụng đến cơ sở dữ liệu.

Việc quản lý dữ liệu bằng cơ sở dữ liệu mang đến lợi ích tích cực, giúp cho việc lưu trữ, truy xuất, sử dụng dữ liệu đạt hiệu suất tốt hơn.Khi cả công ty dùng chung một cơ sở dữ liệu, các phòng ban khác có thể dễ dàng truy cập vào database và lấy thông tin khi họ cần, điều này giúp tránh được việc trùng lập dữ liệu, gây lãng phí tài nguyên.Khi đã dùng chung cơ sở dữ liệu, thông tin được cập nhật trên cơ sở dữ liệu thì khi người dùng lấy dữ liệu, dữ liệu sẽ được đảm bảo đồng bộ hoàn toàn.Việc tìm kiếm thông tin cũng vô vùng dễ dàng khi dữ liệu đã được quản lý bởi DBMS, chúng ta có thể thêm filter, tìm kiếm, gom nhóm các thông tin lại với nhau bằng cách dùng câu truy vấn.Thông tin được quản lý ở một nơi duy nhất, đảm bảo việc bảo mật dữ liệu, tránh rò rỉ thông tin. Ngoài ra có thể phân quyền cho người dùng, ai có thể truy cập dữ liệu, ai không được.

Nhược điểm

Việc sử dụng cơ sở dữ liệu cũng có một số nhược điểm sau:

Dùng chung cơ sở dữ liệu khi xảy ra sự cố, toàn bộ dữ liệu sẽ bị mất hoàn toàn. Tuy nhiên nhược điểm này có thể dễ dàng khắc phục bằng cách sao lưu dữ liệu thường xuyên.Việc dùng chung cơ sở dữ liệu khi có quá nhiều truy vấn sẽ gây nghẽn, sập hệ thống. Tuy nhiên, trong thực tế, lượng truy vấn đến cơ sở dữ liệu đã được ước tính và đầu tư vào cấu hình máy chủ cho phù hợp.

Trên đây là một vài tìm hiểu của kynanggame.edu.vn về sơ sở dữ liệu database có thắc mắc hay cần thêm thông tin gì các bạn liên hệ kynanggame.edu.vn nhé!